Đường sắt Việt Nam là một trong những ngành công nghiệp lâu đời của Việt Nam.
Ngành Đường sắt Việt Nam ra đời năm 1881 bằng việc khởi công
xây dựng tuyến đường sắt đầu tiên đi từ Sài Gòn đến Mỹ Tho dài khoảng 70 km.
Chuyến tàu đầu tiên khởi hành ở Việt Nam là vào ngày 20 tháng 7 năm 1885. Những
năm sau đó, mạng lưới đường sắt tiếp tục được triển khai xây dựng trên khắp
lãnh thổ Việt Nam theo công nghệ đường sắt của Pháp với khổ đường ray 1 mét. Thời
kỳ chiến tranh, Hệ thống đường sắt bị hư hại nặng nề. Kể từ năm 1986, Chính phủ
Việt Nam tiến hành khôi phục lại các tuyến đường sắt chính và các ga lớn, đặc
biệt là tuyến Đường sắt Bắc Nam.
Các kiểu đường sắt
Đường sắt Quốc gia: Là đường sắt phục vụ vận tải hành khách và
hàng hóa chung của cả nước, từng vùng kinh tế và đường sắt liên vận Quốc gia.
Đường sắt Quốc gia được chia thành nhiều tuyến đường sắt qua nhiều ga khác nhau
(là đường sắt đi từ ga đầu tiên đến ga cuối cùng của một hành trình). Trên đường
sắt Quốc gia có tàu khách, tàu hàng được lập bởi một hay nhiều đầu máy, toa xe
không tự vận hành, toa xe động lực, phương tiện chuyên dùng trên đường sắt.
Đường sắt đô thị: Là đường sắt phục vụ việc đi lại hàng ngày của
hành khách của từng thành phố và các vùng phụ cận. Bao gồm: xe điện bánh sắt,
tàu cao tốc, đường 1 ray tự động dẫn hướng, tàu điện chạy nổi và ngầm. Đường sắt
đô thị được xây dựng kiểu chạy trên cao, chạy ngầm (chạy dưới lòng đất). Ngoài
ra còn có kiểu chạy cùng mặt bằng (chạy trên mặt đường bộ) hoặc giao cắt với đường
bộ.
Đường sắt chuyên dùng: Là đường sắt phục vụ nhu cầu vận tải
riêng của một tổ chức, cá nhân. Đường sắt chuyên dùng có thể kết nối hoặc không
kết nối với đường sắt Quốc gia.
Công trình tín hiệu
Tín hiệu cố định
Tín hiệu cố định gồm: tín hiệu đèn màu, tín hiệu cánh
Tín hiệu đèn màu:
Là tín hiệu để báo cho lái tàu biết để điều khiển tàu vào ga, vào bãi, ra ga,
ra bãi, phòng vệ, dừng tàu, thông qua ga... Tín hiệu đèn màu gồm có những màu sắc:
đỏ, vàng, xanh lục, xanh lam, sữa. Có các kiểu tín hiệu: tín hiệu chính (vào
ga, vào bãi, ra ga, ra bãi, ngăn đường, phòng vệ, dồn tàu, vượt đỉnh dốc
gù...), tín hiệu lặp lại, tín hiệu báo trước.
Tín hiệu cánh: Là
tín hiệu có tác dụng giống như tín hiệu đèn màu, dùng ở những nơi chưa có tín
hiệu đèn màu. Có các kiểu tín hiệu: tín hiệu chính (vào ga, vào bãi, ra ga, ra
bãi, ngăn đường, phòng vệ, dồn tàu, vượt đỉnh dốc gù...), tín hiệu lặp lại, tín
hiệu báo trước. Có loại 1 cánh, 2 cánh, 3 cánh.
Trên mỗi cánh có một đèn tương ứng để thắp sáng vào ban đêm hoặc ban ngày không rõ tầm nhìn.
Trên mỗi cánh có một đèn tương ứng để thắp sáng vào ban đêm hoặc ban ngày không rõ tầm nhìn.
Hệ thống thông tin tín hiệu
Hệ thống đóng đường sử dụng điện với thiết bị đóng đuờng
cánh/đèn màu được lắp đặt trên hầu hết các tuyến đường sắt phía Bắc. Hệ thống
đóng đường nửa tự động được lắp đặt trên tuyến Hà Nội - TP Hồ Chí Minh.
Về hệ thống thông tin, đường sắt Việt Nam sử dụng hầu hết
máy tải ba 1 kênh, 3 kênh, 12 kênh được sản xuất tại Hungary giữa những năm
1972 và 1979. Hệ thống radio tần số cao được dùng cho hệ thống dự trữ khẩn cấp ở
một số khu vực của mạng lưới đường sắt.
Hệ thống dây trần được sử dụng nhiều trong việc truyền tải
thông tin đuờng dài. Loại cáp đôi đồng được sử dụng cho thông tin tín hiệu địa
phương.
Từ năm 1998, Tổng Công ty đường sắt Việt Nam sử dụng hệ thống
nhân kênh trên kênh truyền số liệu tốc độ 64 kbps thuê của Tổng công ty Bưu
chính viễn thông Việt Nam trên hướng Hà Nội - TP Hồ Chí Minh và Hà Nội - Đà Nẵng
để truyền số liệu và điện thoại băng công nghệ Microband ATM (chế độ truyền dẫn
không đồng bộ vi băng).
Ga đường sắt
là
khu vực có phạm vi định giới rõ rệt theo quy định của ngành đường sắt, có các
công trình kiến trúc và các thiết bị cần thiết khác để tàu hỏa dừng, tránh, vượt
nhau, xếp dỡ hàng hóa, nơi hành khách lên xuống tàu hay chờ tàu... Ga có thể thực
hiện một hay nhiều hoạt động khác nhau, như: nhận chuyển chở hàng, xếp dỡ hàng,
bảo quản hàng, trao trả hàng, trung chuyển hàng lẻ, tổ chức liên vận, đón gửi
tàu, lập và giải toả các đoàn tàu, kiểm tra kĩ thuật toa xe, bán vé cho hành
khách... Ga đường sắt có các công trình: kho bãi hàng hóa, kho chứa hành lý, quảng
trường, nhà ga, công trình cho người tàn tật, phòng chờ tàu, nơi xếp dỡ hàng
hóa...
Phân loại ga
Ga chính
Ga hành khách: Là
ga thực hiện nhiệm vụ vận chuyển hành khách, bán vé cho hành khách, lên/xuống
tàu, lập tàu và giải thể tàu. Nhà ga hành khách thường có các công trình: phòng
đọc sách, phòng ăn uống, khách sạn, phòng bảo vệ và ban quản lý ga, khu vệ
sinh, phòng chờ tàu, nơi giao nhận hành lý, phòng bán vé...
Ga hàng hóa: Là ga
thực hiện nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa, xếp dỡ hàng hóa, lưu kho bãi hàng hóa.
Ga hàng hóa có những công trình: nhà ga, quảng trường, bãi xếp dỡ hàng, kho và
các công trình lợi ích khác.

Ga kỹ thuật: Là ga
thực hiện tác nghiệp kỹ thuật đầu máy, toa xe và một số chức năng khác.
Ga hỗn hợp: Là ga
có 2 hoặc 3 chức năng của những loại ga trên.
Ga dọc đường: Là
ga được bố trí cách nhau từng khoảng cách nhất định dọc theo tuyến đường để các
đoàn tàu tránh, vượt nhau và phục vụ công tác vận chuyển. Các ga dọc đường thường
là nhà ga nhỏ, công việc đơn giản, khối lượng thấp.
Ga khu đoạn: Ga
khu đoạn là ga mà ở đó các đoàn tàu phải thay đầu máy, thay tổ lái máy, kiểm
tra kĩ thuật toa xe, làm các công việc cần thiết cho các đoàn tàu chạy thông
qua. Ga khu đoạn thường là ga lớn, đảm nhiệm nhiều chức năng trong công tác vận
chuyển hàng hoá và hành khách.
Ga lập tàu: có nhiệm
vụ chủ yếu là lập các đoàn tàu để gửi đi và giải toả các đoàn tàu đến. Ngoài
ra, ga còn làm các công việc khác như xếp dỡ hàng hoá. Ga lập tàu là những ga lớn
thường được đặt tại các khu đầu mối đường sắt.
Khổ đường sắt
Đường sắt Quốc gia có tiêu chuẩn là 1000mm (3 ft 3 3⁄8 in) và
1435mm (4 ft 8 1⁄2 in).
Đường sắt đô thị có khổ đường là 1000mm.
Đường sắt chuyên dùng do tổ chức tự quyết định khổ đường nếu
không kết nối vào đường sắt Quốc gia.
Khoảng cách đường rầy ở Trung Quốc theo tiêu chuẩn quốc tế,
nghĩa là 1.435 mm (standard gauge). Nhưng ở tất cả các quốc gia thuộc khối MRS
(Mekong River Subregion, Tiểu vùng Sông Mekong như Thái Lan, Lào, Campuchia và
Việt Nam) đa số có đường rầy khoảng cách 1.000 mm. Người ta chọn khoảng cách
1.000 mm để giảm vốn đầu tư xây dựng nền đường và người ta chọn khoảng cách
1.435 mm để có thể liên thông dễ dàng với mạng đường sắt quốc tế và tại vì những
đầu tầu và toa xe theo tiêu chuẩn quốc tế rẻ hơn đầu tầu và toa xe theo tiêu
chuẩn khác.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét